3. Nghị quyết số 02/2003/NQ-IIĐTP ngày 27/5/2003 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật Hình sự. Lý do hết hiệu lực: Nghị quyết này hướng dẫn quy định của Bộ luật Hình sự năm 1999. Đến nay, Bộ luật Hình
- Điểm m, n khoản 1 Điều 93 của Bộ luật hình sự năm 1999; - Khoản 3 Điều 104 của Bộ luật hình sự năm 1999. Từ khóa của án lệ: "Giết người"; "Cố ý gây thương tích"; "Gây tổn hại cho sức khỏe của người khác"; "Các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe
TÌNH HUỐNG. Ngày 24/07/2010, Nguyễn Trọng Điệp (sinh năm 1976), vợ là Nguyễn Thị Nga (sinh năm 1978) thuê một chiếc taxi của hãng Mai Linh và thuê Lương Thị Ngoạn (sinh năm 1972) đi xe máy hộ tống, quan sát phía sau xe taxi, lên biên giới vùng Con Cuông - Nghệ An để mua ma túy về bán
trong trường hợp thương tích, tổn hại sức khoẻ hoặc chết người xảy ra do lỗi cố ý, thì tuỳ trường hợp cụ thể mà bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo các khoản tương ứng của điều 104 blhs về tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác hoặc điều 93 blhs về tội giết người; nếu làm cho nạn nhân bị uất ức mà tự sát, thì có …
Theo quy định tại khoản 2 Điều 31 và khoản 2 Điều 60 Bộ luật hình sự năm 1999, Tòa án giao người bị kết án treo, cải tạo không giam giữ về cơ quan tổ chức hoặc chính quyền địa phương quản lý giáo dục. Căn cứ vào điểm b khoản 3 Điều 104 Bộ luật tố tụng dân
Vay Tiền Nhanh.
Từ khoá Số Hiệu, Tiêu đề hoặc Nội dung ngắn gọn của Văn Bản... Thuộc tính Nội dung Tiếng Anh English Văn bản gốc/PDF Lược đồ Liên quan hiệu lực Liên quan nội dung Tải về Số hiệu 32/1999/NQ-QH10 Loại văn bản Nghị quyết Nơi ban hành Quốc hội Người ký Nông Đức Mạnh Ngày ban hành 21/12/1999 Ngày hiệu lực Đã biết Ngày công báo Đã biết Số công báo Đã biết Tình trạng Đã biết QUỐC HỘI ******** CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ******** Số 32/1999/NQ-QH10 Hà Nội, ngày 21 tháng 12 năm 1999 NGHỊ QUYẾT VỀ VIỆC THI HÀNH BỘ LUẬT HÌNH SỰ QUỐC HỘI NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Căn cứ vào Điều 84 của Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992; QUYẾT NGHỊ 1. Bộ luật hình sự của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam được Quốc hội thông qua ngày 21 tháng 12 năm 1999 có hiệu lực từ ngày 01 tháng 7 năm 2000. Bộ luật hình sự này thay thế Bộ luật hình sự được Quốc hội thông qua ngày 27 tháng 6 năm 1985 và các luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật hình sự được Quốc hội thông qua ngày 28 tháng 12 năm 1989, ngày 12 tháng 8 năm 1991, ngày 22 tháng 12 năm 1992 và ngày 10 tháng 5 năm 1997. Chính phủ, Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình, tự mình hoặc phối hợp tổ chức việc rà soát các văn bản hướng dẫn thi hành Bộ luật hình sự hiện hành để huỷ bỏ, sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành văn bản mới; đề nghị Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội huỷ bỏ, sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành văn bản mới cho phù hợp với quy định của Bộ luật hình sự này, bảo đảm hiệu lực của Bộ luật từ ngày 01 tháng 7 năm 2000. 2. Kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2000, Bộ luật hình sự được áp dụng như sau a Tất cả các điều khoản của Bộ luật hình sự được áp dụng để điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án đối với người thực hiện hành vi phạm tội từ 0 giờ 00 ngày 01 tháng 7 năm 2000; b Các điều luật xoá bỏ một hình phạt, một tình tiết tăng nặng; quy định hình phạt nhẹ hơn, tình tiết giảm nhẹ mới hoặc mở rộng phạm vi áp dụng án treo, miễn trách nhiệm hình sự, miễn hình phạt, giảm hình phạt, xoá án tích và các quy định khác có lợi cho người phạm tội thì được áp dụng đối với cả những hành vi phạm tội xảy ra trước 0 giờ 00 ngày 01 tháng 7 năm 2000 mà sau thời điểm đó mới bị phát hiện, đang bị điều tra, truy tố, xét xử hoặc đối với người đang được xét giảm thời hạn chấp hành hình phạt, xoá án tích; c Các điều luật quy định một tội phạm mới, một hình phạt mới, một hình phạt nặng hơn, một tình tiết tăng nặng mới hoặc hạn chế phạm vi áp dụng án treo, miễn trách nhiệm hình sự, miễn hình phạt, giảm hình phạt, xoá án tích và các quy định khác không có lợi cho người phạm tội, thì không áp dụng đối với những hành vi phạm tội xảy ra trước 0 giờ 00 ngày 01 tháng 7 năm 2000 mà sau thời điểm đó mới bị phát hiện, đang bị điều tra, truy tố, xét xử hoặc đối với người đang được xét giảm thời hạn chấp hành hình phạt, xoá án tích; trong trường hợp này, vẫn áp dụng quy định tương ứng của các văn bản pháp luật hình sự trước đây để giải quyết; d Đối với những hành vi phạm tội xảy ra trước 0 giờ 00 ngày 01 tháng 7 năm 2000 và đã có bản án, quyết định của Toà án đã có hiệu lực pháp luật, thì không được căn cứ vào những quy định của Bộ luật hình sự này có nội dung khác so với các điều luật đã được áp dụng khi tuyên án để kháng nghị giám đốc thẩm; trong trường hợp kháng nghị dựa vào căn cứ khác hoặc đã kháng nghị trước ngày 01 tháng 7 năm 2000, thì việc xét xử giám đốc thẩm phải tuân theo quy định tại điểm b và điểm c Mục này. 3. Kể từ ngày Bộ luật hình sự này được công bố a Không áp dụng hình phạt tử hình khi xét xử người phạm những tội mà Bộ luật hình sự này đã bỏ hình phạt tử hình, đối với phụ nữ có thai, phụ nữ đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi khi phạm tội hoặc khi xét xử; b Hình phạt tử hình đã tuyên đối với những người được nêu tại điểm a Mục này nhưng chưa thi hành, thì không thi hành nữa và được chuyển xuống hình phạt cao nhất mà Bộ luật hình sự này quy định đối với hành vi phạm tội đó; trong trường hợp điều luật mới vẫn giữ hình phạt tử hình, thì đối với phụ nữ có thai, phụ nữ đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi, hình phạt tử hình đã tuyên được chuyển thành tù chung thân; c Không xử lý về hình sự đối với người thực hiện hành vi mà Bộ luật hình sự trước đây quy định là tội phạm nhưng Bộ luật hình sự này không quy định là tội phạm; nếu vụ án đang được điều tra, truy tố, xét xử thì phải đình chỉ; trong trường hợp người bị kết án đang chấp hành hình phạt hoặc đang được tạm đình chỉ thi hành án, thì họ được miễn chấp hành phần hình phạt còn lại; trong trường hợp người bị kết án chưa chấp hành hình phạt hoặc đang được hoãn thi hành án, thì họ được miễn chấp hành toàn bộ hình phạt; d Không xử lý về hình sự đối với người chưa thành niên từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi về tội phạm có mức cao nhất của khung hình phạt đến bảy năm tù; nếu vụ án đang được điều tra, truy tố, xét xử thì phải đình chỉ; trong trường hợp người đó đã bị kết án và đang chấp hành hình phạt hoặc đang được tạm đình chỉ thi hành án, thì họ được miễn chấp hành phần hình phạt còn lại; nếu người bị kết án chưa chấp hành hình phạt hoặc đang được hoãn thi hành án, thì được miễn chấp hành toàn bộ hình phạt; đ Những người đã chấp hành xong hình phạt về một tội mà Bộ luật hình sự này không quy định là tội phạm nữa hoặc được miễn chấp hành toàn bộ hình phạt hoặc phần hình phạt còn lại theo điểm c và điểm d Mục này, thì đương nhiên được xoá án tích. 4. Chính phủ, Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao trong phạm vi, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm phối hợp với Uỷ ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận tuyên truyền, phổ biến rộng rãi Bộ luật hình sự này trong cán bộ và nhân dân nhằm phát huy tác dụng của Bộ luật hình sự trong đấu tranh phòng, chống tội phạm trên mọi lĩnh vực quản lý nhà nước và trong đời sống xã hội. Nghị quyết này đã được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá X, kỳ họp thứ 6 thông qua ngày 21tháng 12 năm 1999. Lưu trữ Ghi chú Ý kiếnFacebook Email In Văn bản này chưa cập nhật nội dung Tiếng Anh Nghị quyết số 32/1999/NQ-QH10 ngày 21/12/1999 về việc thi hành Bộ luật Hình sự do Quốc Hội ban hành
Bộ luật Hình sự 1999 được sửa đổi, bổ sung 2009 gồm 24 chương, 344 điều được Quốc hội thông qua ngày 21 tháng 12 năm 1999 và bắt đầu có hiệu lực từ ngày 1 tháng 7 năm 2000. Bộ luật Hình sự, với vai trò là công cụ sắc bén, hữu hiệu trong đấu tranh phòng chống tội phạm, góp phần bảo vệ chế độ, quyền con người, quyền công dân, đảm bảo trật tự an toàn xã hội, tạo môi trường lành mạnh, an toàn để phát triển xã hội, đồng thời đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế của nước ta. Nội dung chính của Bộ luật Hình sự bao gồm Các quy định chung hiệu lực của Bộ luật hình sự chương II, tội phạm chương III, thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự, miễn trách nhiệm hình sự chương IV, hình phạt chương V, thời hiệu thi hành bản án, miễn chấp hành hình phạt, giảm thời hạn chấp hành hình phạt chương VIII, xóa án tích chương X… Các loại tội phạm các tội xâm phạm an ninh quốc gia chương XI, các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con người chương XII, các tội xâm phạm quyền tự do, dân chủ của công dân, các tội xâm phạm sở hữu, các tội xâm phạm chế độ hôn nhân và gia đình, các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế, môi trường, trật tự, an toàn công cộng…. Đối với mỗi loại tội phạm cụ thể, có những chế tài chi tiết được ban hành để áp dụng. Có những tội phạm thuộc nhóm tội phạm về chính trị, có những tội thuộc nhóm tội phạm kinh tế… mỗi loại tội phạm đều có những chế tài cụ thể với mục đích răn đe, giáo dục người phạm tội, đồng thời cũng nhằm mục đích tuyên truyền, giáo dục ý thức pháp luật cho người dân. Các bạn có thể download Bộ luật Hình sự 1999 tại đây Bộ luật hình sự_1999_QH10 Xem thêm video của Luật sư SBLaw về Doanh nghiệp
Mục lục[sửa] Lời nói đầu Phần chung Chương I Điều khoản cơ bản Điều 1 - 4 Chương II Hiệu lực của Bộ luật hình sự Điều 5 - 7 Chương III Tội phạm Điều 8 - 22 Chương IV Thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự, miễn trách nhiệm hình sự Điều 23 - 25 Chương V Hình phạt Điều 26 - 40 Chương VI Các biện pháp tư pháp Điều 41 - 44 Chương VII Quyết định hình phạt Điều 45 - 54 Chương VIII Thời hiệu thi hành án, miễn chấp hành hình phạt, giảm thời hạn chấp hành hình phạt Điều 55 - 62 Chương IX Xóa án tích Điều 63 - 67 Chương X Những quy định đối với người chưa thành niên phạm tội Điều 68 - 77 Phần các tội phạm Chương XI Các tội xâm phạm an ninh quốc gia Điều 78 - 92 Chương XII Các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con người Điều 93 - 122 Chương XIII Các tội xâm phạm quyền tự do, dân chủ của công dân Điều 123 - 132 Chương XIV Các tội xâm phạm sở hữu Điều 133 - 145 Chương XV Các tội xâm phạm chế độ hôn nhân và gia đình Điều 146 - 152 Chương XVI Các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế Điều 153 - 181 Chương XVII Các tội phạm về môi trường Điều 182 - 191a Chương XVIII Các tội phạm về ma túy Điều 192 - 201 Chương XIX Các tội xâm phạm an toàn công cộng, trật tự công cộng Điều 202 - 256 Chương XX Các tội xâm phạm trật tự quản lý hành chính Điều 257 - 276 Chương XXI Các tội phạm về chức vụ Điều 277 - 291 Mục A Các tội phạm về tham nhũng Mục B Các tội phạm khác về chức vụ Chương XXII Các tội xâm phạm hoạt động tư pháp Điều 292 - 314 Chương XXIII Các tội xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân Điều 315 - 340 Chương XXIV Các tội phá hoại hòa bình, chống loài người và tội phạm chiến tranh Điều 341 - 344 Điều 3.[sửa] Luật này có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2010. Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình hướng dẫn thi hành Luật này. Luật này đã được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XII, kỳ họp thứ 5 thông qua ngày 19 tháng 6 năm 2009. CHỦ TỊCH QUỐC HỘI Đã ký Nguyễn Phú Trọng xtsHiến pháp, Luật, Bộ luật hiện hành của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt NamHiến phápHiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam 2013Bộ luật Dân sự Hàng hải Hình sự Lao động Tố tụng dân sự Tố tụng hình sự Luật An ninh mạng An ninh Quốc gia An toàn thông tin mạng An toàn thực phẩm An toàn, vệ sinh lao động Ban hành văn bản quy phạm pháp luật Báo chí Bảo hiểm tiền gửi Bảo hiểm xã hội Bảo hiểm y tế Bảo vệ bí mật nhà nước Bảo vệ môi trường Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng Bảo vệ sức khỏe nhân dân Bảo vệ và kiểm dịch thực vật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân Biên giới Quốc gia Biên phòng Việt Nam Biển Việt Nam Bình đẳng giới Bưu chính Các công cụ chuyển nhượng Các tổ chức tín dụng Cán bộ, công chức Cảnh sát biển Việt Nam Cạnh tranh Cảnh vệ Căn cước công dân Chăn nuôi Chất lượng sản phẩm, hàng hóa Chuyển giao công nghệ Chứng khoán Công an nhân dân Công chứng Công đoàn Công nghệ cao Công nghệ thông tin Cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài Cơ yếu Cư trú Dân quân tự vệ Dầu khí Di sản văn hóa Doanh nghiệp Du lịch Dự trữ quốc gia Dược Đa dạng sinh học Đặc xá Đất đai Đấu giá tài sản Đấu thầu Đầu tư Đầu tư công Đầu tư theo phương thức đối tác công tư Đê điều Điện ảnh Điện lực Điều ước quốc tế Đo đạc và bản đồ Đo lường Đường sắt Giá Giám định tư pháp Giao dịch điện tử Giáo dục Giáo dục đại học Giáo dục nghề nghiệp Giáo dục quốc phòng và an ninh Giao thông đường bộ Giao thông đường thủy nội địa Hải quan Hàng không dân dụng Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác Hóa chất Hòa giải ở cơ sở Hòa giải, đối thoại tại tòa án Hoạt động chữ thập đỏ Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân Hộ tịch Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa Hôn nhân và gia đình Hợp tác xã Kế toán Khám bệnh, chữa bệnh Khí tượng thủy văn Khiếu nại Khiếu nại, tố cáo Khoa học và công nghệ Khoáng sản Kiểm toán độc lập Kiểm toán nhà nước Kiến trúc Kinh doanh bảo hiểm Kinh doanh bất động sản Lâm nghiệp Luật sư Lực lượng dự bị động viên Lưu trữ Lý lịch tư pháp Mặt trận tổ quốc Năng lượng nguyên tử Ngân hàng Nhà nước Ngân sách Nhà nước Nghĩa vụ quân sự Người cao tuổi Người khuyết tật Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng Nhà ở Nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh, cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam Nuôi con nuôi Phá sản Phí và lệ phí Phòng cháy và chữa cháy Phòng, chống bạo lực gia đình Phòng, chống bệnh truyền nhiễm Phòng, chống khủng bố Phòng, chống ma túy Phòng, chống mua bán người Phòng, chống HIV/AIDS Phòng, chống rửa tiền Phòng, chống tác hại của rượu, bia Phòng, chống tác hại của thuốc lá Phòng, chống tham nhũng Phòng, chống thiên tai Phổ biến, giáo dục pháp luật Quản lý ngoại thương Quản lý nợ công Quản lý thuế Quản lý, sử dụng tài sản công Luật quản lý, sử dụng vốn nhà nước đầu tư vào sản xuất, kinh doanh tại doanh nghiệp Quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ Quảng cáo Quân nhân chuyên nghiệp, công nhân và viên chức quốc phòng Quốc phòng Quốc tịch Quy hoạch Quy hoạch đô thị Sĩ quan Quân đội nhân dân Sở hữu trí tuệ Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả Tài nguyên nước Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo Tần số vô tuyến điện Thanh niên Thanh tra Thể dục, thể thao Thi đua, Khen thưởng Thi hành án dân sự Thi hành án hình sự Thi hành tạm giữ, tạm giam Thỏa thuận quốc tế Thống kê Thủ đô Thú y Thuế bảo vệ môi trường Thuế giá trị gia tăng Thuế sử dụng đất nông nghiệp Thuế sử dụng đất phi nông nghiệp Thuế tài nguyên Thuế thu nhập cá nhân Thuế thu nhập doanh nghiệp Thuế tiêu thụ đặc biệt Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu Thủy lợi Thủy sản Thư viện Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí Thương mại Tiếp cận thông tin Tiếp công dân Tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật Tín ngưỡng, tôn giáo Tố cáo Tố tụng hành chính Tổ chức Chính phủ Tổ chức chính quyền địa phương Tổ chức cơ quan điều tra hình sự Tổ chức Quốc hội Tổ chức Tòa án nhân dân Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước Trẻ em Trọng tài thương mại Trồng trọt Trợ giúp pháp lý Trưng cầu ý dân Trưng mua, trưng dụng tài sản Tương trợ tư pháp Việc làm Viên chức Viễn thông Xây dựng Xuất bản Xuất cảnh, nhập cảnh của công dân Việt Nam Xử lý vi phạm hành chính
Theo quy định tại Điều 104 bộ luật hình sự 1999 có quy định về tôi cố ý gây thương tích và tổn hại cho sức khỏe của người khác. Có thể thấy hành vi cố ý gây thương tích là hành vi nguy hiểm được quy định ở tất cả các bộ luật hình sự. Hãy cùng Luật Rong Ba tìm hiểu về nội dung điều 104 bộ luật hình sự 1999 và một số văn bản hướng dẫn qua bài viết dưới đây nhé! Quy định về điều 104 bộ luật hình sự 1999 Điều 104. Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm a Dùng hung khí nguy hiểm hoặc dùng thủ đoạn gây nguy hại cho nhiều người; b Gây cố tật nhẹ cho nạn nhân; c Phạm tội nhiều lần đối với cùng một người hoặc đối với nhiều người; d Đối với trẻ em, phụ nữ đang có thai, người già yếu, ốm đau hoặc người khác không có khả năng tự vệ; đ Đối với ông, bà, cha, mẹ, người nuôi dưỡng, thầy giáo, cô giáo của mình; e Có tổ chức; g Trong thời gian đang bị tạm giữ, tạm giam hoặc đang bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục; h Thuê gây thương tích hoặc gây thương tích thuê; i Có tính chất côn đồ hoặc tái phạm nguy hiểm; k Để cản trở người thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân. Phạm tội gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 31% đến 60% hoặc từ 11% đến 30%, nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm. Phạm tội gây thương tích, gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 61% trở lên hoặc dẫn đến chết người hoặc từ 31% đến 60%, nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này, thì bị phạt tù từ năm năm đến mười lăm năm. Phạm tội dẫn đến chết nhiều người hoặc trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng khác, thì bị phạt tù từ mười năm đến hai mươi năm hoặc tù chung thân. Văn bản hướng dẫn điều 104 bộ luật hình sự 1999 Nghị quyết 01/HĐTP ngày 12 tháng 5 năm 2006 hướng dẫn một số qui định của Bộ luật hình sự sd 2010 Điểm 3. Về một số tình tiết quy định tại khoản 1 Điều 104 của BLHS Tình tiết “dùng hung khí nguy hiểm” quy định tại điểm a khoản 1 Điều 104 của BLHS “Dùng hung khí nguy hiểm” quy định tại điểm a khoản 1 Điều 104 của BLHS là trường hợp dùng vũ khí hoặc phương tiện nguy hiểm theo hướng dẫn tại các tiểu mục và mục 2 Phần I Nghị quyết số 02/2003/NQ-HĐTP ngày 17-4-2003 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao để cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác. Ví dụ Theo hướng dẫn tại điểm a tiểu mục mục 2 Phần I Nghị quyết số 02/2003/NQ-HĐTP ngày 17-4-2003 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao thì dao nhọn là phương tiện nguy hiểm và đã được A sử dụng gây thương tích cho B thì thuộc trường hợp “dùng hung khí nguy hiểm”. Tình tiết “phạm tội nhiều lần đối với cùng một người hoặc đối với nhiều người” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 104 của BLHS a “Phạm tội nhiều lần đối với cùng một người hoặc đối với nhiều người” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 104 của BLHS được hiểu là trường hợp cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của một người từ hai lần trở lên hoặc của hai người trở lên có thể một lần, có thể nhiều lần đối với mỗi người và trong các lần đó chưa có lần nào bị xử lý hành chính, xử lý kỷ luật hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự và chưa hết thời hiệu xử lý hành chính, xử lý kỷ luật hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự. Việc áp dụng tình tiết “phạm tội nhiều lần đối với cùng một người hoặc đối với nhiều người” để xét xử bị cáo theo khoản 1, khoản 2 hoặc khoản 3 Điều 104 của BLHS được thực hiện theo hướng dẫn tại các điểm b, c và d tiểu mục này. b Chỉ áp dụng tình tiết “phạm tội nhiều lần đối với cùng một người hoặc đối với nhiều người” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 104 của BLHS để xét xử bị cáo theo khoản 1 Điều 104 của BLHS trong các trường hợp sau đây Cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của một người từ hai lần trở lên mà mỗi lần tỷ lệ thương tật dưới 11%, nhưng tổng tỷ lệ thương tật của tất cả các lần từ 11% trở lên. điều 104 bộ luật hình sự 1999 Trường hợp trong các lần đó chỉ có một lần tỷ lệ thương tật từ 11% đến 30%, còn các lần khác tỷ lệ thương tật đều dưới 11% thì bị cáo cũng chỉ bị xét xử theo khoản 1 Điều 104 của BLHS. Cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của hai người trở lên có thể một lần, có thể nhiều lần đối với mỗi người mà mỗi lần tỷ lệ thương tật dưới 11%, nhưng tổng tỷ lệ thương tật của tất cả các lần từ 11% trở lên. Trường hợp trong các lần đó chỉ có một người một lần tỷ lệ thương tật từ 11% đến 30%, còn các lần khác tỷ lệ thương tật đều dưới 11% thì bị cáo cũng chỉ bị xét xử theo khoản 1 Điều 104 của BLHS. c Chỉ áp dụng tình tiết “phạm tội nhiều lần đối với cùng một người hoặc đối với nhiều người” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 104 của BLHS để xét xử bị cáo theo khoản 2 Điều 104 của BLHS trong các trường hợp sau đây Cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của một người từ hai lần trở lên mà có ít nhất hai lần tỷ lệ thương tật từ 11% đến 30%. Trường hợp trong các lần đó chỉ có một lần tỷ lệ thương tật từ 31% đến 60%, còn các lần khác tỷ lệ thương tật đều dưới 31% thì bị cáo cũng chỉ bị xét xử theo khoản 2 Điều 104 của BLHS. Cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của hai người trở lên có thể một lần, có thể nhiều lần đối với mỗi người mà trong đó có ít nhất hai người và mỗi người một lần tỷ lệ thương tật từ 11% đến 30%. Trường hợp trong các lần đó chỉ có một người một lần tỷ lệ thương tật từ 31% đến 60%, còn các lần khác tỷ lệ thương tật đều dưới 31% thì bị cáo cũng chỉ bị xét xử theo khoản 2 Điều 104 của BLHS. d Chỉ áp dụng tình tiết “phạm tội nhiều lần đối với cùng một người hoặc đối với nhiều người” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 104 của BLHS để xét xử bị cáo theo khoản 3 Điều 104 của BLHS trong các trường hợp sau đây Cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của một người từ hai lần trở lên mà có ít nhất hai lần tỷ lệ thương tật từ 31% đến 60%. Trường hợp trong các lần đó chỉ có một lần tỷ lệ thương tật từ 61% trở lên, còn các lần khác tỷ lệ thương tật đều dưới 61% thì bị cáo cũng chỉ bị xét xử theo khoản 3 Điều 104 của BLHS. Cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của hai người trở lên có thể một lần, có thể nhiều lần đối với mỗi người mà trong đó có ít nhất hai người và mỗi người một lần tỷ lệ thương tật từ 31% đến 60%. Trường hợp trong các lần đó chỉ có một người một lần tỷ lệ thương tật từ 61% trở lên, còn các lần khác tỷ lệ thương tật đều dưới 61% thì bị cáo cũng chỉ bị xét xử theo khoản 3 Điều 104 của BLHS. Tình tiết “đối với thầy giáo, cô giáo của mình” quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 104 của BLHS a Chỉ áp dụng tình tiết “đối với thầy giáo, cô giáo của mình” quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 104 của BLHS để xét xử bị cáo theo khoản 1 Điều 104 của BLHS khi có đầy đủ các điều kiện sau đây Nạn nhân phải là thầy giáo, cô giáo tức là người đã hoặc đang làm công tác giảng dạy theo biên chế hoặc theo hợp đồng tại cơ quan, tổ chức có chức năng giáo dục, đào tạo, dạy nghề được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép; Cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của nạn nhân là vì lý do thực hiện nhiệm vụ giáo dục, đào tạo, dạy nghề của họ đối với bị cáo, không phân biệt nhiệm vụ đó đã được thực hiện hay đang được thực hiện và không kể thời gian dài hay ngắn; Tỷ lệ thương tật của nạn nhân dưới 11%. b Chỉ áp dụng tình tiết “đối với thầy giáo, cô giáo của mình” quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 104 của BLHS để xét xử bị cáo theo khoản 2 Điều 104 của BLHS khi có đầy đủ các điều kiện sau đây Các điều kiện được hướng dẫn tại các điểm và tiểu mục này; Tỷ lệ thương tật của nạn nhân từ 11% đến 30%. c Chỉ áp dụng tình tiết “đối với thầy giáo, cô giáo của mình” quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 104 của BLHS để xét xử bị cáo theo khoản 3 Điều 104 của BLHS khi có đầy đủ các điều kiện sau đây Các điều kiện được hướng dẫn tại các điểm và tiểu mục này; Tỷ lệ thương tật của nạn nhân từ 31% đến 60%. Nghị quyết 02/HĐTP ngày 17 tháng 4 năm 2003 hướng dẫn áp dụng một số qui định của BLHS Phần tội phạm sd 2010 [MỤC I. VỀ MỘT SỐ TÌNH TIẾT LÀ YẾU TỐ ĐỊNH TỘI HOẶC ĐỊNH KHUNG HÌNH PHẠT] Điểm 1. Về tình tiết “gây cố tật nhẹ cho nạn nhân” quy định tại điểm b khoản 1 Điều 104 Bộ luật Hình sự. “Gây cố tật nhẹ cho nạn nhân” là hậu quả của hành vi cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của nạn nhân để lại trạng thái bất thường, không thể chữa được cho một bộ phận cơ thể của nạn nhân với tỷ lệ thương tật dưới 11% khi thuộc một trong các trường hợp làm mất một bộ phận cơ thể của nạn nhân; làm mất chức năng một bộ phận cơ thể của nạn nhân; làm giảm chức năng hoạt động của một bộ phận cơ thể của nạn nhân hoặc làm ảnh hưởng đến thẩm mỹ của nạn nhân. Trên đây là toàn bộ tư vấn của Luật Rong Ba về điều 104 bộ luật hình sự 1999. Nếu như bạn đang gặp phải khó khăn trong quá trình tìm hiểu về điều 104 bộ luật hình sự 1999 và những vấn đề pháp lý liên quan, hãy liên hệ Luật Rong Ba để được tư vấn miễn phí. Chúng tôi chuyên tư vấn các thủ tục pháp lý trọn gói, chất lượng, uy tín mà quý khách đang tìm kiếm.
điều 104 bộ luật hình sự 1999